Năm nay, ngành giáo dục Hà Nội có bước đột phá khi đưa hệ thống bản đồ số (GIS) vào hệ thống phân vùng học sinh. Điều này nhằm xóa bỏ khái niệm cứng nhắc về ranh giới quận và thành phố.
Nhưng những cuộc tranh luận sôi nổi xung quanh phương pháp phê duyệt mới này đã gợi lại những ký ức cũ. Nó nhắc tôi nhớ đến một sự thật đơn giản: Không có điều kiện nào – dù là khoảng cách địa lý, công nghệ hiện đại hay nơi ở lâu dài – có ảnh hưởng đến tương lai của đứa trẻ nhiều hơn năng lực và sự chính trực của giáo viên.
Nghịch lý của công nghệ và những thách thức mà nó mang lại.
Nhiều phụ huynh có thể “nhìn thấy trường ngay trước cửa nhà” nhưng con họ lại được hệ thống máy tính chỉ định đến trường khác cách đó 3-4 km. Nguyên nhân là do trường học gần nhất đã “hết công suất”. Công nghệ bộc lộ một nghịch lý: Thuật toán có thể đo khoảng cách vật lý với độ chính xác tuyệt đối nhưng hoàn toàn bất lực trong việc giải quyết sự khác biệt về cơ sở vật chất, chất lượng giáo dục giữa các trường.
Thách thức hiện nay không phải là quay lưng lại với công nghệ mà là cải thiện hệ thống phân bổ GIS với các thiết kế được tối ưu hóa dựa trên kinh nghiệm quốc tế và trên hết là giải quyết triệt để tình trạng không chắc chắn xung quanh “trường tốt và trường xấu”.

Sinh viên Hà Nội. Ảnh: Thanh Hưng
Việc áp dụng GIS là một chính sách cực kỳ hợp lý, phản ánh sự nhạy bén của các nhà quản trị. Tuy nhiên, hệ thống hiện đang hoạt động với cơ chế tuyến tính khá thô sơ: nó tìm trường học gần nhất. Và nếu trường đó quá đông, hệ thống sẽ tự động tìm chỗ trống ở trường gần thứ hai hoặc thứ ba, bất kể tình trạng tắc nghẽn giao thông.
Việc xếp lớp thụ động dựa trên việc “lấp chỗ trống” vô tình khiến học sinh gặp rủi ro tương tự như mô hình rút thăm ngẫu nhiên. Từ góc độ khoa học dữ liệu và xã hội học, việc chuyển các gia đình có trẻ em đến các trường học ở xa hoặc không đạt tiêu chuẩn đã gây ra hiện tượng “chọn lọc bên ngoài”.
Một cuộc điều tra về hệ thống xổ số của Trường Công lập Tulsa đã phát hiện ra những sai sót trong cơ chế: 15% học sinh không được nhận vào trường công lập lựa chọn đầu tiên của họ có khả năng rời bỏ hệ thống trường công lập hoàn toàn. Đáng lo ngại hơn nữa, các gia đình giàu có có khả năng chuyển sang trường tư cao hơn 33% nếu thuật toán từ chối họ khỏi trường họ ưa thích.
Bản thân thuật toán không có sai sót. Lỗi nằm ở hàm mục tiêu mà chúng ta gán cho nó. Để giải quyết nghịch lý này, các nhà hoạch định chính sách phải dựa trên các mô hình phân bổ thuật toán tiên tiến từ các hệ thống giáo dục phức tạp.
Ở Brazil, nơi phải đối mặt với tình trạng bất bình đẳng sâu sắc, chính phủ São Paulo đã triển khai các cơ chế phân bổ tối ưu lấy cảm hứng từ thuật toán Gale-Shapley nổi tiếng. Tính ưu việt của hệ thống này nằm ở sự kết hợp giữa chức năng đo lường có sự hỗ trợ của máy tính với ý chí con người thông qua mô hình “lựa chọn có kiểm soát”.
Thay vì để máy tính đơn phương quyết định học sinh sẽ theo học trường nào chỉ vì trường gần nhất đã kín chỗ, phụ huynh được trao quyền làm điều đó. Bạn có thể chọn từ ba đến năm trường theo thứ tự ưu tiên trong một “cụm tuyển sinh” lớn. Nếu không được chọn vào trường nào, họ sẽ chuyển sang đợt tuyển chọn tiếp theo. Dựa trên danh sách lựa chọn này, thuật toán sẽ bắt đầu tối ưu hóa quy trình so khớp. Hệ thống phân bổ học sinh dựa trên một số yếu tố: con đường an toàn nhất được ưu tiên tuyệt đối, những gia đình có anh chị em đang theo học tại trường được ưu tiên và cuối cùng là năng lực của trường.
Ý nghĩa sâu xa hơn của công nghệ này là gì? Trao quyền cho cha mẹ khiến họ cảm thấy mình có thể kiểm soát được số phận của con mình. Ngay cả khi đứa trẻ không được vào trường gần nhất vì lý do khách quan, việc xếp vào trường lựa chọn thứ hai hoặc thứ ba do chính chúng lựa chọn vẫn tốt hơn nhiều.
Tuy nhiên, việc cập nhật bản đồ GIS lên mức hoàn hảo chỉ là nỗ lực hời hợt nếu bỏ qua “nút thắt” trung tâm: nỗi lo của phụ huynh về sự bất bình đẳng trong chất lượng giảng dạy.
Khi các trường hàng đầu hết chỗ gần nơi họ sinh sống, thuật toán sẽ đẩy học sinh sang trường khác. Tại sao bố mẹ lại khó chịu đến vậy? Đó không chỉ là việc tăng thêm vài dặm giao thông; Mối quan tâm lớn nhất là trường thay thế có thể có cơ sở vật chất cũ hơn và đội ngũ giảng viên có trình độ kém hơn. Bằng việc dịch chuyển vị trí của học sinh trên bản đồ số mà không đồng thời nâng cao chất lượng, chúng ta đang lặp lại sai lầm của Hàn Quốc.
Vào những năm 1970, Hàn Quốc đưa ra “Chính sách Bình đẳng Trung học”, bãi bỏ kỳ thi tuyển sinh và phân học sinh ngẫu nhiên. Mục đích ban đầu là nhân đạo và nhằm giảm bớt áp lực thi cử. Tuy nhiên, khi các trường công lập bị tước quyền tự chủ và buộc phải dạy những học sinh có trình độ kỹ năng rất khác nhau trong cùng một lớp, chất lượng giáo dục ngay lập tức sa sút.
Kết quả là sự bùng nổ của hệ thống giáo dục ngầm (hagwons – trung tâm dạy thêm tư nhân). Các bậc cha mẹ thuộc tầng lớp trung lưu và thượng lưu phản ứng bằng cách đăng ký cho con tham gia các khóa học dạy kèm chuyên sâu để có được lợi thế. Hệ thống “bình đẳng hóa” này vô tình làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo.
Bài học này cho thấy các chính sách dựa trên phần mềm máy tính không thể vượt qua được sức mạnh của đồng tiền nếu chất lượng giáo dục thực tế không được quan tâm đúng mức.
Tất cả các điểm nóng tuyển sinh đều do thuật toán thiếu biến quan trọng nhất: chất lượng giáo dục. GIS cuối cùng chỉ xử lý các ranh giới hành chính. Nó chỉ có thể vạch ra con đường vật chất đến trường chứ không thể vạch ra con đường tiếp thu kiến thức. Để thẻ kỹ thuật số thực sự phát huy tác dụng, giải pháp hiệu quả nhất là mạnh dạn áp dụng mô hình luân chuyển giáo viên tiếng Nhật (Kyoin Ido).
Ở Nhật Bản, luân chuyển giáo viên là luật bắt buộc. Cứ ba đến bảy năm một lần, giáo viên các cấp phải chuyển đến một trường học mới trong cùng một quận, bao gồm cả việc chuyển từ các trường trung tâm đông đúc đến các khu vực khó khăn hơn. Không “trường học ưu tú” nào được phép sở hữu tư nhân hoặc tuyển dụng lâu dài những giáo viên xuất sắc. Mọi học sinh đều có đặc quyền được học từ những giáo viên giỏi nhất trong hệ thống.
Cơ chế khen thưởng bất đối xứng
Để thực hiện thành công ở Việt Nam, thách thức lớn nhất là vượt qua những rào cản tâm lý mà giáo viên gặp phải. Chúng ta không thể đơn giản luân chuyển giáo viên theo lệnh của chính phủ; Điều này cần phải được luật hóa để tạo ra khung pháp lý minh bạch và cơ chế quản lý nguồn nhân lực hiện đại.
Đầu tiên, Cần thiết lập “cơ chế bù trừ bất đối xứng”. Giáo viên chuyển từ trường trung tâm sang trường ngoại thành sẽ được hưởng mức lương cao hơn, trợ cấp đi lại, v.v.
Thứ hai, và hơn hết, việc luân chuyển phải gắn với cơ hội nghề nghiệp. Ví dụ, ngành giáo dục có thể đưa ra chính sách quy định không ai được bổ nhiệm làm hiệu trưởng hoặc phó hiệu trưởng trừ khi họ hoàn thành tốt ít nhất một học kỳ luân phiên tại một trường xếp hạng thấp hơn và chứng tỏ được khả năng cải thiện trường đó. Nếu việc giảng dạy ở một trường cạnh tranh được coi là một “thách thức” để thăng tiến lên vị trí lãnh đạo thì suy nghĩ của những người liên quan sẽ hoàn toàn thay đổi.
Khi một phụ huynh ở ngoại thành Hà Nội hay một khu vực khác trong thành phố nhận ra rằng các thầy cô đứng trên bục giảng, dù con họ học ở trường ngay bên cạnh hay chỉ cách đó không xa, vẫn là những nhà giáo dục ưu tú đang tiếp tục con đường học vấn của mình, mọi nỗi sợ hãi đều tan biến. Chỉ bằng cách thu hẹp khoảng cách về chất lượng giảng dạy thông qua cơ chế pháp lý hợp lý, áp lực tuyển sinh to lớn đặt lên các khu vực đô thị trung tâm mới có thể được giải quyết.
Việc xóa bỏ địa giới hành chính và sử dụng bản đồ số là xu hướng tất yếu trong hành chính công. Máy móc có thể thực hiện hàng triệu phép tính để tìm ra con đường ngắn nhất, nhưng chỉ có sự cống hiến và uyên bác của người thầy mới có thể mang đến cho đứa trẻ con đường an toàn nhất để định hướng cuộc sống.
Nguồn: https://vietnamnet.vn/ha-noi-phan-truong-bang-ban-do-so-khi-dap-an-la-nang-luc-va-tam-duc-nguoi-thay-2514780.html


